Khi thành phố chứng nhận rằng con bạn cần nhà trẻ, thành phố cũng chứng nhận cần bao nhiêu phần trong ngày (保育必要量, hoiku hitsuyōryō). Giờ tiêu chuẩn (保育標準時間, hoiku hyōjun jikan) là bậc dài hơn. Giờ ngắn (保育短時間, hoiku tanjikan) là bậc ngắn hơn. Bậc đó không phải giờ ghi trên cổng. Sổ tay năm tài khóa 2027 của Kawasaki (川崎市) và của quận Koto (江東区) cho thấy hai thành phố áp dụng cách chia này thế nào. Giờ cổng của quận khác sẽ khác.
Hai bậc có nghĩa là gì
Kawasaki đặt trần ở 11 giờ cho giờ tiêu chuẩn và 8 giờ cho giờ ngắn. Mốc ước của sổ tay cho giờ tiêu chuẩn là làm việc từ 120 giờ một tháng trở lên, hoặc nhu cầu chăm sóc hơn 8 giờ một ngày. Giờ nghỉ giải lao và thời gian đi lại được tính trong con số theo ngày đó. Thành phố chỉ chọn khung: một khoảng nằm giữa 8 và 11 giờ, hoặc trong vòng 8 giờ. Nhà trẻ sau đó mới đặt giờ đưa và giờ đón thực tế, từ giờ làm của bạn, quãng đi lại, và việc bạn đang nghỉ thai sản hay nghỉ chăm con. Hãy hỏi khi đến xem nhà trẻ, và hỏi lại khi nhập học.
Koto mô tả cùng hai tên này, dựa trên một cổng mẫu 7:30–18:30, với giờ kéo dài từ 18:30 đến 19:30:
Chứng nhận
Koto nói giờ nằm ở đâu
Giờ tiêu chuẩn
Tối đa 11 giờ trong giờ mở cửa, không tính giờ kéo dài
Giờ ngắn
Trong khung 9:00–17:00, tối đa 8 giờ. Thời gian ngoài khung đó là chăm sóc kéo dài theo lần
Koto nói chăm sóc giờ ngắn là chứng nhận thông thường khi làm việc trong tháng dưới 120 giờ, trừ khi ca làm và quãng đi lại thường xuyên đẩy bạn ra ngoài khung 9:00–17:00. Đó cũng là bậc thông thường khi bạn đang nghỉ chăm con cho một đứa con khác, không phải đứa bạn đang nộp đơn. Quận nêu:
「保育短時間」を希望・認定されても、保育園等の入園が有利・不利になることは一切ありません。
Chọn giờ ngắn không đẩy bạn lên hay xuống danh sách nhận chỗ.
Chứng nhận là một mức trần. Koto nói giờ thực được chốt trong buổi gặp với nhà trẻ. Bạn có thể đổi bậc theo tháng. Hãy nộp mẫu đổi của quận cho quầy chăm sóc trẻ, chậm nhất vào ngày đầu tiên văn phòng mở cửa trong tháng bạn muốn dùng giờ mới.
Một tuần ở nhà trẻ, tại Kawasaki
Nhà trẻ công lập của Kawasaki mở từ thứ Hai đến thứ Bảy, 7:30–18:30, với khung chính 8:30–16:30. Chủ nhật, ngày lễ và kỳ nghỉ năm mới thì đóng cửa. Nhà trẻ tư được cấp phép thường mở 7:00–18:00 hoặc 7:30–18:30, với khung chính 8:30–16:30 hoặc 9:00–17:00. Một số nơi thêm ngày đóng cửa riêng. Thời gian ngoài khung chính với trẻ giờ ngắn là chăm sóc kéo dài, tính theo bước 30 phút.
Kawasaki tổ chức chăm sóc kéo dài tại mọi nhà trẻ công lập và mọi nhà trẻ tư được cấp phép, dù một số phòng tư không làm với lớp 0 tuổi hoặc vào thứ Bảy. Nhà trẻ công lập có khung 7:00–7:30 buổi sáng và 18:30–20:00 buổi tối. Bạn nộp đơn cho nhà trẻ. Nhà trẻ phải đồng ý. Một số độ tuổi không được bắt đầu chăm sóc kéo dài ngay ngày đầu.
Chăm sóc kéo dài của Kawasaki (công lập và tư được cấp phép)
Khoản thu hằng tháng
30 phút
1,000 yên
1 giờ
2,000 yên
1 giờ 30 phút
3,000 yên
2 giờ
4,000 yên
Bạn trả cả tháng nếu đã đăng ký, dù có dùng hết mọi ngày hay không. Hộ đang nhận trợ cấp sinh hoạt (生活保護) và hộ không nộp thuế cư trú thì không trả khoản này. Bậc A và bậc B trên bảng phí là những bậc mà chú thích của bảng loại khỏi khoản này. Bữa phụ buổi tối tính thêm, khoảng 1,500 yên một tháng, và bữa phụ đó không được miễn cho những hộ ấy. Nhà trẻ có bữa tối có thể tính thêm. Nhà trẻ công lập thu phí kéo dài cùng với phí chính. Nhà trẻ tư được cấp phép tự thu.
Khi con đã nhập học mà bạn nghỉ chăm con, Kawasaki giữ chỗ nhưng chuyển sang giờ ngắn cho đến khi kỳ nghỉ kết thúc. Giờ làm bị rút xuống dưới 64 giờ một tháng thì hoàn toàn không được tính là "đi làm" khi xét nhu cầu chăm sóc. Từ 64 giờ trở lên, hạng dùng số giờ từ trước khi rút ngắn.
Koto thu gì ngoài cổng
Phí nhà trẻ hằng tháng của Koto bằng không, theo quy tắc ở bài về phí. Chăm sóc kéo dài thì không. Tại nhà trẻ công lập do quận vận hành, chăm sóc kéo dài theo lần là 100 yên mỗi 15 phút, trên phiếu nộp riêng. Hợp đồng chăm sóc kéo dài theo tháng được tính từ phần thuế thu nhập của thuế cư trú của cả hai phụ huynh. Nếu thuế đó chưa từng được nộp, quận dùng mức cao nhất. Nhà trẻ tư và nhà trẻ quy mô nhỏ tự đặt giá kéo dài, và quận không thu các khoản đó.
Một mẫu của Koto trong ghi chú cơ sở định giá chăm sóc kéo dài theo lần là 500 yên mỗi 30 phút, từ 18:15 đến 20:15. Đó là con số của cơ sở, không phải mức 100 yên của nhà trẻ do quận vận hành. Hãy đọc dòng của cơ sở trước khi dựa vào một trong hai con số.
Chi phí nếu chọn sai bậc
Bảng phí của Kawasaki có các cột khác nhau cho giờ tiêu chuẩn và giờ ngắn, và thành phố nói khoản thu phụ thuộc loại cơ sở và lượng chăm sóc. Các ô tiền yên trong bảng đó không trích ra được sạch, nên không được chép ở đây. Thông báo sau khi có suất mới là con số mang tính ràng buộc. Phí hằng tháng của Koto không đổi theo bậc, vì phí đó bằng không; hóa đơn chăm sóc kéo dài thì đổi theo mức bạn ở lại quá số giờ đã được chứng nhận.
Trẻ giờ ngắn được đón lúc 18:30 ở nhà trẻ công lập của Kawasaki không phải "chỉ trễ một chút". Những phút đó là chăm sóc kéo dài, theo mức phí tháng, một khi bạn đã đăng ký cho chúng.
Những chỗ dễ sai
Coi giờ mở cửa là giờ được chứng nhận, rồi phải trả phí kéo dài cho khoảng chênh.
Cho rằng giờ ngắn giúp hồ sơ. Koto nói là không.
Giữ giờ tiêu chuẩn trong thời gian nghỉ chăm con cho đứa trẻ đang học. Kawasaki chuyển giai đoạn đó sang giờ ngắn.
Tụt xuống dưới 64 giờ trên hợp đồng rút giờ, và mất hẳn lý do đi làm.
Quên rằng đăng ký chăm sóc kéo dài theo tháng bị tính cho cả tháng, không phải theo ngày bạn dùng.
Việc chứng nhận số giờ không phải lời hứa có chỗ. Kawasaki nói chính thông báo về khoản được hưởng không phải là một suất nhà trẻ.
Việc cần làm bây giờ
Khi đi thăm, hãy hỏi khung giờ chính, cách sắp thứ Bảy, và lớp 0 tuổi có chăm sóc kéo dài hay không.